Bánh chưng - Món ăn truyền thống của dân tộc Việt Nam

Bánh chưng - Giới thiệu

Bánh chưng là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt Nam nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Bánh chưng được làm từ những nguyên liệu gồm có gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, lá dong và bánh chưng thường được làm vào các dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt, cũng như ngày giổ tổ Hùng Vương (Mùng 10 tháng 3 Âm lịch). 

Một hình ảnh của bánh chưng.
Là loại bánh duy nhất có lịch sử lâu đời trong ẩm thực truyền thống của Việt Nam và còn được sử sách nhắc đến, bánh chưng có vị trí đặc biệt trong tâm thức của cộng đồng người Việt và nguồn gốc của nó là về truyền thuyết liên quan đến hoàng tữ Lang Liêu vào đời vua Hùng thứ 6. Sự tích trên muốn nhắc nhở con cháu mình về truyền thống của dân tộc; là một lời giải thích đầy ý nghĩa cũng như là nguồn cội của bánh chưng, bánh giầy trong văn hóa Việt, cũng đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa nước và thiên nhiên trong nền văn hóa lúa nước. Trong quan niệm phổ biến thời nay, bánh chưng cùng với bánh giầy được tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ người Việt Nam xưa. Bánh mang theo mình màu xanh lá cây, hình vuông, được coi là đặc trưng cho đất trong tín ngưỡng của người Việt cổ và các dân tộc khác ở Châu Á. 

Một gia đình đang gói bánh chưng cho ngày Tết.
Gói, nấu bánh chưng và ngồi xung quanh nồi bánh chưng trên bếp lửa với người thân trong gia đình đã trở thành một tập quán, văn hóa sống trong các gia đình người Việt mỗi dịp Tết đến, xuân về. Khi sêu tết nhau tặng bánh chưng thì người Việt có tục lệ là tặng một cặp bánh chứ không tặng một cái lẻ. 

Người Việt có những quy định chung về cách làm một món bánh chưng chuẩn:

- Lá để gói: Thường là lá cây dong tươi. Lá dong chọn lá dong rừng bánh tẻ, to bản, và đều nhau, không bị rách, phải có màu xanh mướt. Tuy nhiên, tùy theo địa phương và dân tộc, điều kiện và hoàn cảnh, lá gói bánh chưng cũng có thể là lá chít, lá chuối hay cả lá bàng.
- Lạt buộc: Bánh chưng thường dùng lạt giang được làm từ ống cây giang. Lạt có thể được ngâm nước muối hoặc hấp cho mềm trước khi gói.
- Gạo nếp: Gạo nếp thường dùng gạo thu hoạch vụ mùa. Gạo vụ này phải có hạt to, tròn, dẻo đều và lúc mới thu hoạch thì sẽ thơm dẻo hơn các vụ khác. Nhiều người chọn nếp cái hoa vàng hay nếp nương.
- Đỗ xanh: Đỗ thường được lựa chọn công phu, tốt nhất là loại đỗ trồng ở vùng đồi trung du của Việt Nam (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Thọ,... vì sẽ thơm và bổ hơn). Sau khi thu hoạch cần phơi nắng đều thật khô, sàng sẩy hết rác, bụi, hạt lép, phân loại rồi đóng vào hũ, lọ bằng sành là tốt nhất.
- Thịt: Thường là thịt lợn, chọn lợn ỉ được nuôi hoàn toàn bằng phương pháp thủ công (nuôi chuồng hoặc nuôi thả, thức ăn phải hoàn toàn bằng cám rau tự nhiên, không dùng bất kỳ loại thuốc nào). Thịt ba chỉ (ba rọi) với sự kết hợp của mỡ và nạc để cho nhân bánh vị béo một cách đậm đà.
- Gia vị các loại: Hạt tiêu dùng để ướp thịt làm nhân bánh chưng. Muối dùng để trộn vào gạo, đỗ xanh và ướp thịt. Đặc biệt thịt ướp không nên dùng nước mắm vì nó sẽ khiến cho bánh chóng bị ôi, thiu.
- Phụ gia tạo màu: Bánh chưng có màu xanh của nếp được tạo thành bằng cách quay mặt trên của lá dong, lá chuối (mặt có màu xanh thẫm) vào trong, áp với bề mặt của gạo nếp. Một số nơi khác còn dùng các phụ gia khác như lá dừa hoặc lá giềng xay nhuyễn vắt lấy nước trộn gạo vừa tạo hương thơm, vừa tạo cho bánh chưng có màu xanh ngọc.

Trên bàn thờ ngày Tết không thể thiếu bánh chưng và bánh giầy được đặt theo cặp. Nhiều người cầu kỳ còn bóc bỏ lớp lá bên ngoài của bánh và gói lại bằng lá tươi mới, sau đó thì buộc lạt màu đỏ trước khi để lên bàn thờ.

Bánh chưng mật mía.
Bánh chưng thường được ăn với dưa hành, nước mắm, xì dầu có rắc chút bột tiêu. Đến sau Tết, bánh có thể bị lại, bị cứng lại, lúc đó người ta thường đem rán vàng trong chảo mỡ và ăn kèm với dưa góp. Bánh chưng cũng có thể được chấm với mật mía, đặc biệt là một số tỉnh ở Bắc Trung Bộ, như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Nguồn: Wikipedia

Nhận xét

Bài đăng phổ biến